'Kẻ thắng - người bại' trong cuộc đua phục hồi kinh tế

16:42 30/12/2021

Tốc độ phục hồi sau cuộc suy thoái vì Covid-19 gây ngạc nhiên khi sản lượng kinh tế của 38 nước OECD đã vượt mức trước khủng hoảng. Nhưng đó chủ yếu là chuyện của nước giàu.

Bức tranh tổng thể rất lành mạnh, ngay cả khi một số biến thể của Covid-19 xuất hiện trong năm. Tỷ lệ thất nghiệp trung bình trên toàn khối ở mức 5,7%, tương đương mức trung bình sau chiến tranh. Tổng thu nhập hộ gia đình, được điều chỉnh theo lạm phát, cao hơn mức trước khủng hoảng.

Nhưng đằng sau nó ẩn chứa những khác biệt rõ ràng. Để đánh giá những khác biệt này, The Economist đã thu thập dữ liệu về 5 chỉ số kinh tế và tài chính gồm: GDP, thu nhập hộ gia đình, hiệu suất thị trường chứng khoán, chi tiêu vốn và nợ của chính phủ, cho 23 quốc gia giàu có thuộc OECD.

Họ xếp hạng từng nền kinh tế theo kết quả trên từng chỉ số, tạo ra một bảng hiện trạng tổng thể (bảng bên dưới hiển thị 4 trên 5 chỉ số). Kết quả so sánh cho thấy, một số quốc gia vẫn ở trong suy thoái, trong khi nước khác đang phát triển tốt hơn so với trước đại dịch ở hầu hết chỉ số.

Cụ thể, Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển đều ở gần top đầu, và nền kinh tế Mỹ cũng hoạt động khá tốt. Tuy nhiên, nhiều nước lớn ở châu Âu, bao gồm Anh, Đức và Italy, còn khó khăn hơn. Trong đó, Tây Ban Nha có kết quả kém nhất.

Mức độ tăng trưởng các chỉ số (%) được so sánh giữa dữ liệu quý III/2021 hoặc mới nhất với quý IV/2020. Đồ họa: The Economist

Xếp hạng phong độ phục hồi kinh tế một số nước giàu. Mức độ tăng trưởng các chỉ số (%) được so sánh giữa dữ liệu quý III/2021 hoặc mới nhất với quý IV/2020. Đồ họa: The Economist

Một số quốc gia dễ bị tổn thương bởi các lệnh cấm du lịch và sự suy giảm trong chi tiêu dịch vụ - đặc biệt là các quốc gia ở Nam Âu, nơi phụ thuộc nhiều vào du lịch. Các quốc gia khác, bao gồm Bỉ và Anh, vì số ca nhiễm và tử vong ở mức cao nên chi tiêu của người tiêu dùng bị hạn chế.

Ở một số quốc gia có tác động của virus tương đối nhẹ, thị trường lao động không bị ảnh hưởng quá nhiều, cho phép mọi người tiếp tục kiếm tiền. Tỷ lệ thất nghiệp của Nhật Bản hầu như không đổi kể từ khi đại dịch bắt đầu. Ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp của Tây Ban Nha tăng.

Một số chính phủ bù đắp cho thu nhập bị mất cho người dân bằng cách phát tiền. Đó là chiến lược của Mỹ. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp tăng cao khi nền kinh tế suy thoái, các hộ gia đình Mỹ đã nhận được hơn 2.000 tỷ USD từ các khoản phát tiền và trợ cấp thất nghiệp bổ sung. Canada đã làm điều tương tự.

Tuy nhiên, các quốc gia khác, chẳng hạn các nước Baltic (Estonia, Latvia và Litva), tập trung sức mạnh tài chính vào việc bảo vệ dòng tiền của các công ty hoặc mở rộng năng lực chăm sóc sức khỏe. Áo và Tây Ban Nha thì không bảo vệ việc làm lẫn người mất việc. Ở cả hai quốc gia này, thu nhập thực tế của hộ gia đình vẫn thấp hơn mức trước đại dịch khoảng 6%.

Còn các công ty thì sao? Hiệu suất thị trường chứng khoán cho thấy sức khỏe của họ, cũng như sức hấp dẫn của một quốc gia với các nhà đầu tư nước ngoài. Giá cổ phiếu ở Anh hiện thấp hơn một chút so với trước đại dịch, có lẽ là do bất ổn bởi Brexit gây ra. Anh cũng có ít công ty trong các lĩnh vực tăng trưởng cao, được hưởng lợi từ lãi suất thấp hơn và việc ứng dụng công nghệ khi có đại dịch.

Ngược lại, Mỹ có nhiều công ty như vậy, nên chứng kiến sự tăng vọt của thị trường chứng khoán. Nhưng chứng khoán Bắc Âu cũng tăng vọt nhờ lý do khác. Theo đó, ba trong số mười công ty vốn hóa lớn nhất Đan Mạch là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, những cổ phiếu tốt để nắm giữ trong đại dịch.

Chỉ tiêu vốn là thước đo thứ tư, đánh giá mức độ lạc quan của các doanh nghiệp về tương lai. Một số quốc gia đang trong giai đoạn bùng nổ kinh tế, như Mỹ. Các doanh nhân nơi đây nhìn thấy các cơ hội do đại dịch tạo ra và các công ty đang chi lớn vào các công nghệ giúp làm việc tại nhà hiệu quả hơn.

Tháng 10, Goldman Sachs dự báo các công ty thuộc S&P 500 sẽ chi tiêu nhiều hơn 18% cho vốn đầu tư và R&D vào năm 2022 so với năm 2019. Ngược lại, đầu tư vào một số nơi khác lại ít hơn. Ví dụ, Na Uy đã chứng kiến sự cắt giảm đối với đầu tư dầu khí.

Chỉ số cuối cùng là nợ công. Nợ chính phủ càng nhiều thì hẳn càng tệ hơn, vì nó có thể cho thấy mức tăng thuế tiềm năng lớn hơn và cắt giảm chi tiêu trong tương lai. Không phải quốc gia nào cũng có những khoản nợ khổng lồ trong thời kỳ đại dịch như Mỹ, Anh, Canada và một số nước khác. Nợ công của Thụy Điển chỉ tăng sáu điểm phần trăm tính theo tỷ trọng GDP. Đây có lẽ là do nước này phần lớn tránh được các đợt phong tỏa nghiêm ngặt, nên đòi hỏi ít phải hỗ trợ tài chính hơn.

Sự phục hồi kinh tế sẽ tiếp tục vào năm 2022, mặc dù sự lan rộng của biến thể Omicron đã khiến vài nhà kinh tế hạ dự báo tăng trưởng. OECD kỳ vọng một số quốc gia có thành tích kém nhất sẽ bắt đầu theo kịp. Như Italy, được dự báo tăng trưởng 4,6% năm 2022, cao hơn tốc độ trung bình của khối là 3,9%.

Nhưng những nước tụt hậu sẽ còn một chặng đường dài phía trước. Vào cuối năm tới, OECD dự kiến tổng GDP của ba quốc gia xếp hạng cao nhất trong danh sách của The Economist cao hơn 5% so với mức trước đại dịch. Trong khi đó, sản lượng của ba nước kém nhất dự kiến chỉ cao hơn 1% so với trước Covid-19. Nói cách khác, những tác động không đồng đều của đại dịch sẽ kéo dài.

Link gốc tại đây.

VnExpress tổng hợp theo The Economist

Nhận xét

Broker listing

Cùng chuyên mục

UST, Luna và "tài sản rủi ro an toàn": Khủng hoảng tài chính năm 2008 tái hiện trên thị trường crypto?
Đức Nguyễn

Đức Nguyễn

Macro Analyst

UST, Luna và "tài sản rủi ro an toàn": Khủng hoảng tài chính năm 2008 tái hiện trên thị trường crypto?

Một chuyên gia Bloomberg đã bình luận về lùm xùm Luna như sau. Tài sản “an toàn” có rủi ro cao hơn nhiều so với tài sản rủi ro. Đây là bài học từ khủng hoảng năm 2008, và thị trường crypto đang ôn lại những bài học của thị trường tài chính truyền thống. Rủi ro hệ thống luôn ăn sâu trong tài sản an toàn.
Báo cáo tháng của Crescat Capital: Các xu hướng vĩ mô cần nắm bắt
Nguyễn Long Hà

Nguyễn Long Hà

Junior Analyst

Báo cáo tháng của Crescat Capital: Các xu hướng vĩ mô cần nắm bắt

Crescat là một công ty quản lý tài sản vĩ mô toàn cầu. Chúng tôi phát triển các chủ đề đầu tư chiến thuật dựa trên các mô hình định hướng giá trị độc quyền. Nhiệm vụ của chúng tôi là phát triển và bảo vệ tài sản bằng cách tận dụng các chủ đề vĩ mô dẫn dắt trong thời đại hiện tại. Đây là một điều chưa từng xuất hiện trong lịch sử, sự mất cân đối vĩ mô hiện nay đã làm sai lệch đáng kể nhận thức của thị trường về giá trị và rủi ro. Do một loạt các sự kiện cực đoan vĩ mô không bền vững, lạm phát đã trở nên không ổn định và có khả năng sẽ tiếp tục tệ hơn. Tình hình vĩ mô ngày nay cho thấy nền kinh tế toàn cầu giảm tỷ lệ đòn bẩy trung bình thông qua lạm phát.
Liệu có phải chúng ta đang trong một cuộc suy thoái?
Nguyễn Long Hà

Nguyễn Long Hà

Junior Analyst

Liệu có phải chúng ta đang trong một cuộc suy thoái?

Mặc dù dự báo về số liệu tăng trưởng GDP là một bài toán khó, giới phân tích vẫn làm khá tốt việc này. Tuy nhiên, ở lần dự báo gần đây nhất những con số được công bố đã có sự chênh lệch lớn với số liệu thực thế: GDP giảm 1.4% sau lạm phát trong khi mức dự báo là tăng 1%. Ở Texas, những nhà hàng năm ngoái còn chật cứng mỗi tối cuối tuần giờ đây lượng khách chỉ lấp đầy nửa số chỗ ngồi và giao thông cũng có vẻ như ít đông đúc hơn. Điều tương tự cũng đã diễn ra vào năm 2008 và tháng 3 năm 2020, mặc dù ở thời điểm kể trên mọi thứ không dễ nhận thấy như bây giờ. Người ta tự hỏi liệu các gói kích thích kinh tế có bóp méo các tín hiệu và khiến chúng ta xây quá nhiều nhà, thuê quá nhiều người và khai thác quá nhiều dầu hay không?
Forex Forecast - Diễn đàn dự báo tiền tệ