Chính sách tiền tệ cấp tiến là sự thay thế cần thiết

17:34 13/11/2021

Đứng giữa sự lo lắng về lạm phát và nỗi sợ giảm phát, ngân hàng trung ương ở các nền kinh tế phát triển có thể trả giá đắt với cách tiếp cận “chờ đợi và quan sát” (wait-and-see) như hiện nay. Cần có một cách tiếp cận mới và cấp tiến hơn để giúp các ngân hàng trung ương hoạt động hiệu quả trong thời kỳ hậu đại dịch.

* Bài viết thể hiện quan điểm của YANIS VAROUFAKIS

Hai công cụ của ngân hàng trung ương

Khi đại dịch Covid-19 đã dần được đẩy lùi, ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế phát triển ngày càng trở nên mất phương hướng khi không biết nên hành động như thế nào. Đứng giữa sự lo lắng về lạm phát và nỗi sợ giảm phát, ngân hàng trung ương ở các nền kinh tế phát triển có thể trả giá đắt với cách tiếp cận “chờ đợi và quan sát” (wait-and-see) như hiện nay. Cần có một cách tiếp cận mới và cấp tiến hơn để giúp các ngân hàng trung ương hoạt động hiệu quả trong thời kỳ hậu đại dịch.

Các ngân hàng trung ương từng chỉ có một công cụ để can thiệp duy nhất, đó là lãi suất. Hạ lãi suất để hồi sinh một nền kinh tế đang bước ra khỏi khủng hoảng hoặc tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát (thường phải trả giá bằng việc gây ra suy thoái). Xác định thời điểm để điều chỉnh lãi suất và quyết định mức điều chỉnh bao nhiêu chưa bao giờ là nhiệm vụ dễ dàng nhưng ít nhất họ chỉ cần quyết định tăng (hoặc giảm) lãi suất. Ngày nay, công việc của các ngân hàng trung ương phức tạp hơn nhiều bởi vì họ đã có thêm một công cụ nữa.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, công cụ thứ hai trở nên cần thiết khi mà sự điều chỉnh lãi suất đã không còn phát huy tác dụng. Mặc dù lãi suất đã được giảm xuống hết mức có thể, thậm chí rơi xuống mức âm nhưng nền kinh tế vẫn tiếp tục trì trệ. Tham khảo trường hợp của Nhật Bản, các ngân hàng trung ương lớn (dẫn đầu là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và Ngân hàng Trung ương Anh) đã sử dụng tới công cụ thứ hai, được gọi là nới lỏng định lượng (QE - Quantitative Easing). Nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng cung tiền, các ngân hàng trung ương đã mua tài sản tài chính từ các ngân hàng thương mại với hy vọng rằng các ngân hàng này sẽ bơm lượng tiền mới ấy trực tiếp vào nền kinh tế thực. Nếu lạm phát xuất hiện, tất cả những gì họ cần làm là giảm bớt tốc độ mua tài sản lại.

Tất nhiên đó là trên lý thuyết. Bây giờ lạm phát đang diễn ra, các ngân hàng trung ương đang ở trong trạng thái lo lắng. Họ không biết có nên thắt chặt chính sách QE lại hay không?

Nếu không, họ có thể sẽ phải nhận những lời chỉ trích nặng nề giống như những người tiền nhiệm năm 1970 đã trải qua khi cho phép lạm phát tác động tiêu cực lên giá cả và tiền lương của người dân. Nhưng nếu họ làm theo hướng ngược lại, tức là vừa giảm QE vừa tăng nhẹ lãi suất, họ có thể gây ra hai cuộc khủng hoảng cùng lúc:

Thứ nhất, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt khi lãi suất gia tăng làm giảm tổng cầu lẫn đầu tư.

Thứ hai sự sụp đổ tài chính xuất hiện khi thị trường chứng khoán, các tập đoàn phát triển và mở rộng quá mức nhờ lượng tiền rẻ từ chính sách QE. Nhưng sau đó thì lại hoảng loạn trước viễn cảnh tiền không còn rẻ như trước nữa. Giống như “Taper tantrum” năm 2013, xảy ra sau khi Fed đề xuất giảm tốc độ mua tài sản theo chương trình QE lại.

Viễn cảnh trên là điều mà nhiều ngân hàng trung ương ngại nhất vì nó sẽ khiến cả hai công cụ ưa thích của họ trở nên vô dụng. Sau khi lãi suất tăng, các ngân hàng trung ương sẽ có rất ít dư địa để giảm nó trở lại trong tương lai. Chính sách QE sẽ gặp nhiều bất cập về mặt chính trị khiến tốc độ mua tài sản sẽ trở nên khó khăn hơn. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách đang ở thế tiến thoái lưỡng nan, họ đứng giữa hai lựa chọn và không tài nào tìm ra được lựa chọn hợp lý.

Tuy nhiên, các ngân hàng hiện tại đang theo một lối mòn rằng hai chính sách trên nên được thực hiện một cách tuần tự như những gì từng làm. Đúng là trong quá khứ, chính sách QE được tạo ra chỉ sau khi những điều chỉnh về lãi suất đã ngừng phát huy tác dụng. Nhưng tại sao chúng ta cứ phải bám lấy giả định rằng với việc lạm phát tăng trở lại, trình tự thực hiện bây giờ nhất thiết phải được đảo ngược bằng cách dừng QE trước và sau đó là tăng lãi suất. Tại sao không thể thực hiện cả 2 công cụ này cùng một lúc?

Cần phải tăng lãi suất

Lãi suất đúng ra nên được tăng lên. Chúng ta đừng quên, ngay cả trong thời điểm lãi suất ngân hàng bằng 0 thì vẫn có đến 50% dân số (thuộc tầng lớp thu nhập thấp) không đủ điều kiện để tiếp cận tín dụng giá rẻ mà phải đi vay với lãi suất cao thông qua các khoản vay ngắn hạn, thẻ tín dụng… Chỉ những người giàu mới được hưởng lợi từ chương trình lãi suất thấp. Đối với chính phủ, trong khi lãi suất thấp cho phép họ chuyển đổi nợ với giá rẻ, các ràng buộc về chính sách tài khóa dường như không thể nới lỏng tương ứng. Do vậy mà đầu tư công vẫn đối mặt với tình trạng thiếu hụt. Vì hai lý do này, 13 năm lãi suất cực thấp đã góp phần gây ra bất bình đẳng lớn.

Sự bất bình đẳng ngày càng lớn đã làm tăng tình trạng dư thừa tiền tiết kiệm vì những người siêu giàu hầu như không thể tiêu hết số tiền tích góp của họ. Lượng tiền tiết kiệm lớn trên đại diện cho cung tiền, trong khi các khoản đầu tư nhỏ giọt thể hiện nhu cầu đối với nó, kết quả là cung tiền nhiều hơn cầu, khiến lãi suất vẫn neo giữ ở mức 0% và có trường hợp còn thấp hơn mức này. Do đó, các ngân hàng trung ương phải can đảm tăng lãi suất để phá vỡ vòng luẩn quẩn của sự bất bình đẳng và sự trì trệ không cần thiết này.

Tất nhiên, các ngân hàng trung ương lo ngại rằng việc tăng lãi suất sẽ khiến các chính phủ phá sản và gây ra một cuộc suy thoái nghiêm trọng. Đó là lý do tại sao việc tăng lãi suất cần được hỗ trợ bởi hai chính sách quan trọng được đề cập dưới đây.

Thứ nhất, vì việc tái cơ cấu cả nợ công và nợ tư nhân là rất cấp thiết, các ngân hàng trung ương không nên lẩn tránh việc này. Giữ lãi suất dưới 0 để kéo dài thời gian cho các tổ chức dường như đã mất khả năng thanh toán (có thể kể đến như Hy Lạp, Ý và một số lượng lớn các công ty đang sống vật vờ chờ phá sản), những gì mà Ngân hàng Trung ương Châu Âu và Fed hiện đang làm là bước đi ngu ngốc. Thay vào đó, chúng ta hãy cơ cấu lại các khoản nợ không trả được ấy và tăng lãi suất sớm để ngăn chặn việc hình thành thêm các khoản nợ mất khả năng thanh toán trong tương lai.

Thứ hai, thay vì dừng chính sách QE, cung tiền nên được chuyển hướng khỏi các ngân hàng thương mại và các khách hàng doanh nghiệp (vốn đã chi phần lớn tiền cho việc mua cổ phiếu và làm thị trường chứng khoán tăng liên tục). Số tiền này nên được sử dụng cho mục đích gia tăng thu nhập cơ bản của người dân và tài trợ cho chương trình chuyển đổi xanh (thông qua các định chế như Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Đầu tư Châu Âu). Hình thức QE này sẽ không gây ra lạm phát nếu thu nhập cơ bản của tầng lớp trung lưu bị đánh thuế nặng hơn và đầu tư cho môi trường bắt đầu tạo ra năng lượng sạch và hàng hóa thiết yếu mà nhân loại đang cần.

Các ngân hàng trung ương sẽ không bị giới hạn trong việc phải lựa chọn giữa việc thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng hay thắt chặt. Một chính sách tiền tệ tiến bộ hơn sẽ hướng tới nâng mức lãi suất và cùng với đó là gia tăng đầu tư công nhằm hưởng lợi từ môi trường xanh và giảm bất bình đẳng thu nhập.

Giới thiệu tác giả Yanis Varoufakis

Yanis Varoufakis sinh năm 1961 tại Athens, Hy Lạp. Ông từng là giáo sư kinh tế tại Anh, Úc và Mỹ trong nhiều năm trước khi bước chân vào chính phủ với vai trò là Bộ trưởng tài chính Hy Lạp và là lãnh đạo của đảng MeRA25. Ông hiện đang là Giáo sư Kinh tế tại Đại học Athens (Hy Lạp).

Kể từ khi từ chức Bộ tài chính Hy Lạp, ông đồng sáng lập phong trào DiEM25, vận động cho sự hồi sinh của nền dân chủ ở châu Âu và nói chuyện với hàng nghìn khán giả trên toàn thế giới.

Ông cũng là tác giả của một số cuốn sách bán chạy như: Adults in the Room: My Battle with the European and American Deep Establishment, Talking to My Daughter About the Economy or, How Capitalism Works and How It Fails, And the Weak Suffer What They Must?: Europe's Crisis and America's Economic Future,…

Link gốc tại đây.

Theo Vietstock

Nhận xét

Broker listing

Cùng chuyên mục

UST, Luna và "tài sản rủi ro an toàn": Khủng hoảng tài chính năm 2008 tái hiện trên thị trường crypto?
Đức Nguyễn

Đức Nguyễn

Macro Analyst

UST, Luna và "tài sản rủi ro an toàn": Khủng hoảng tài chính năm 2008 tái hiện trên thị trường crypto?

Một chuyên gia Bloomberg đã bình luận về lùm xùm Luna như sau. Tài sản “an toàn” có rủi ro cao hơn nhiều so với tài sản rủi ro. Đây là bài học từ khủng hoảng năm 2008, và thị trường crypto đang ôn lại những bài học của thị trường tài chính truyền thống. Rủi ro hệ thống luôn ăn sâu trong tài sản an toàn.
Báo cáo tháng của Crescat Capital: Các xu hướng vĩ mô cần nắm bắt
Nguyễn Long Hà

Nguyễn Long Hà

Junior Analyst

Báo cáo tháng của Crescat Capital: Các xu hướng vĩ mô cần nắm bắt

Crescat là một công ty quản lý tài sản vĩ mô toàn cầu. Chúng tôi phát triển các chủ đề đầu tư chiến thuật dựa trên các mô hình định hướng giá trị độc quyền. Nhiệm vụ của chúng tôi là phát triển và bảo vệ tài sản bằng cách tận dụng các chủ đề vĩ mô dẫn dắt trong thời đại hiện tại. Đây là một điều chưa từng xuất hiện trong lịch sử, sự mất cân đối vĩ mô hiện nay đã làm sai lệch đáng kể nhận thức của thị trường về giá trị và rủi ro. Do một loạt các sự kiện cực đoan vĩ mô không bền vững, lạm phát đã trở nên không ổn định và có khả năng sẽ tiếp tục tệ hơn. Tình hình vĩ mô ngày nay cho thấy nền kinh tế toàn cầu giảm tỷ lệ đòn bẩy trung bình thông qua lạm phát.
Liệu có phải chúng ta đang trong một cuộc suy thoái?
Nguyễn Long Hà

Nguyễn Long Hà

Junior Analyst

Liệu có phải chúng ta đang trong một cuộc suy thoái?

Mặc dù dự báo về số liệu tăng trưởng GDP là một bài toán khó, giới phân tích vẫn làm khá tốt việc này. Tuy nhiên, ở lần dự báo gần đây nhất những con số được công bố đã có sự chênh lệch lớn với số liệu thực thế: GDP giảm 1.4% sau lạm phát trong khi mức dự báo là tăng 1%. Ở Texas, những nhà hàng năm ngoái còn chật cứng mỗi tối cuối tuần giờ đây lượng khách chỉ lấp đầy nửa số chỗ ngồi và giao thông cũng có vẻ như ít đông đúc hơn. Điều tương tự cũng đã diễn ra vào năm 2008 và tháng 3 năm 2020, mặc dù ở thời điểm kể trên mọi thứ không dễ nhận thấy như bây giờ. Người ta tự hỏi liệu các gói kích thích kinh tế có bóp méo các tín hiệu và khiến chúng ta xây quá nhiều nhà, thuê quá nhiều người và khai thác quá nhiều dầu hay không?
Forex Forecast - Diễn đàn dự báo tiền tệ